|
2.
Sơ lược về Đường sắt Việt
Nam:
Tuy ra đời không sớm so với các phương
tiện giao thông vận tải khác nhưng Đường sắt mau chóng trở thành phương tiện chủ
lực trong vận tảI và trong sự phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia. Vai
trò quan trọng của vận tải đường sắt là khả năng kết nối giữa các phương tiện vận
tảI khác nhau để hình thành nên vận tải đa phương thức. Vận tải đường sắt là cầu
nối giữa các vùng dân cư lãnh thổ, là phương tiện chuyên chở tốt nhất nguyên vật
liệu cho sản xuất công nghiệp, phục vụ giao lưu giữa các địa phương, phục vụ quốc
phòng, vận chuyển ứng cứu các vùng bị lũ lụt, vận chuyển hành khách nội đô, đồng
thời là phương tiện vận chuyển liên quốc gia thuận lợi, an toàn và hiệu quả.
Ngành đường sắt Việt
Nam
trong quá trình hình thành và phát triển đã có bề dày lịch sử 129 năm (1881- 2010),
gắn liền với những năm tháng thăng trầm của đất nước, gắn bó máu thịt với ý chí
chiến đấu kiên cường bất khuất của dân tộc, của cuộc đấu tranh dựng nước và giữ
nước.
Sau thắng lợi của cuộc kháng chiến
chống thực dân Pháp, miền Bắc bước vào thời kỳ hoà bình, xây dựng. Ngày 6/4/1955,
Tổng cục Đường sắt được thành lập theo quyết định số 505/TTg của Chính phủ. Từ đó
cho đến khi cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước thắng lợi hoàn toàn (30/4/1975),
ngành Đường sắt luôn hoàn thành nhiệm vụ được Đảng và Nhà nước giao: xây dựng, khai
thác, bảo vệ và phát triển đường sắt, với những đóng góp xứng đáng vào sự nghiệp
cách mạng vĩ đại của dân tộc. Sau ngày miền
Nam
giải phóng, cả nước bước vào thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.
Cùng với công cuộc đổi mới của cả nước, ngày 14/5/1990, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng
(nay là Thủ tướng Chính phủ) đã có quyết định số 158/QĐ-TTg chuyển Tổng cục đường
sắt thành Liên hiệp Đường sắt Việt nam, thực hiện nhiệm vụ sản xuất kinh doanh theo
cơ chế của liên hiệp xí nghiệp đặc thù, có tư cách pháp nhân, là doanh nghiệp Nhà
nước hạch toán tổng hợp toàn ngành, riêng khối vận tải hạch toán tập trung. Tiếp
đó, để phù hợp với tình hình sản xuất kinh doanh mới, ngày 4/3/2003, Thủ tướng Chính
phủ đã ra quyết định số 34/QĐ- TTg, chuyển Liên hiệp Đường sắt Việt nam thành Tổng
công ty Đường sắt Việt Nam, thực hiện nhiệm vụ sản xuất kinh doanh theo mô hình
Tổng công ty Nhà nước (Tổng công ty 91). Các nhiệm vụ chủ yếu của Tổng công ty Đường
sắt Việt nam được quy định tại Quyết định 34/ QĐ-TTg như sau:
-
Trực tiếp kinh doanh vận tải, đóng
vai trò của một doanh nghiệp dịch vụ vận tải;
-
Quản lý, sửa chữa, bảo trì cơ sở hạ
tầng đường sắt; chế tạo, đóng mới, đại tu, sửa chữa lớn và sản xuất các phương tiện
vận tải, thiết bị, phụ tùng chuyên ngành; Quản lý, sửa chữa, bảo trì cơ sở hạ tầng
đường sắt;
-
Đại lý, môi giới, cung ứng lao động
và dịch vụ vận tải đường sắt; xuất nhập khẩu lao động, phương tiện, vật tư, thiết
bị chuyên ngành;
-
Hợp tác liên doanh, liên kết với các
tổ chức kinh tế trong và ngoài nước về đường sắt;
-
Đào tạo cán bộ trình độ trung cấp và
công nhân kỹ thuật chuyên ngành đường sắt;
-
Tiến
hành các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của pháp luật;
Cũng theo quyết định này, cơ cấu tổ
chức của Tổng công ty ĐSVN gồm có:
·
Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát;
·
Tổng giám đốc và bộ máy giúp việc;
·
Các đơn vị thành viên.
Các đơn vị thành viên
thuộc 7 khối sản xuất, kinh doanh khác nhau như: Vận tải, cơ sở hạ tầng, xây
dựng cơ bản, công nghiệp, dịch vụ, quản lý dự án và trường học. Trong đó, hoạt động
quan trọng nhất có thể nói là hoạt động vận tải, do 5 đơn vị chính phụ trách, đó
là:
·
Công ty vận tải hành khách đường sắt Hà Nội
·
Công ty vận tải hành khách đường sắt Sài Gòn
·
Công ty vận tải hàng hoá đường sắt
·
Liên hiệp Sức kéo Đường sắt
·
Trung tâm điều hành vận tải đường sắt.
Xuyên suốt chiều dài lịch sử xây dựng
và phát triển, đến nay, một mạng lưới Đường sắt từ Bắc tới Nam với chiều dài 3.143km
đã được hình thành, trong đó có 2632 km đường sắt chính tuyến, 403 km đường ga,
108 km đường nhánh. Phân bổ của mạng lưới đường sắt theo chiều dài đất nước và theo
hình xương cá, gồm có 15 tuyến chính và nhánh đi qua 35 tỉnh thành (trong đó tuyến
Bắc - Nam có chiều dài khai thác lớn nhất) trải dài khắp đất nước từ Bắc xuống Nam,
từ Tây sang Đông và có hàng chục tuyến đường sắt chuyên dùng phục vụ phát triển
kinh tế xã hội của địa phương. Bên cạnh đó, Đường sắt Việt
Nam
cũng đang nỗ lực không ngừng trong việc triển khai các dự án xây dựng những tuyến
đường sắt mới, hiện đại hơn. Trong tương lai không xa, những tuyến đường sắt trên
cao, đường sắt cao tốc sẽ được xây dựng và đưa vào hoạt động.
Với truyền
thống quý báu về đoàn kết, thống nhất ý chí và hành động, lại được sự quan tâm giúp
đỡ của Đảng, Chính phủ, của các bộ ngành và các địa phương, CBCNV ngành ĐS luôn
phấn đấu đưa Ngành đường sắt thành một ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước, nhanh
chóng hội nhập đường sắt trong khu vực và trên thế giới.
3.
Ban lãnh
đạo
|
Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng giám đốc:
Các Phó TGĐ:
|
Nguyễn Đạt Tường
Trần Phúc Tiến
Trần
Quốc Đông
Ngô Anh
Tảo
Phạm Công
Trịnh
Ngô Cao Vân
|
|